Tuần 41 giá bán bình quân ba hãng giảm 1,24% và giá bạc thế giới quy ra tiền Việt giảm 1,50%, nhưng từ phiên thứ Hai đến phiên thứ Năm hai bên đã lùi 3,40% và 4,81% trước khi bật lại. Chúng tôi đo quãng đường giá đi trong tuần so với điểm nó dừng lại trên 16 tuần dữ liệu tự thu thập. Từ cuối tháng Tám, giá trong nước chỉ đi khoảng một nửa quãng đường của thế giới, so với gần như ngang bằng hồi tháng Sáu, tháng Bảy; còn kiểu đi rồi quay lại thì không khác gì một chuỗi ngẫu nhiên. Góc nhìn dữ liệu trung lập, không phải khuyến nghị mua bán.
Nếu chỉ nhìn hai đầu tuần 41, đây là một tuần nhạt: giá bán bình quân ba hãng giảm 1,24% so với phiên thứ Sáu 02/10, giá bạc thế giới quy ra tiền Việt giảm 1,50%. Nhưng ở giữa là một đoạn đường khác hẳn. Từ phiên thứ Hai đến phiên thứ Năm, giá trong nước lùi 3,40% và thế giới lùi 4,81%. Thứ Sáu, cả hai bật lên hơn 2% trong một phiên. Người mua ngày thứ Ba và người mua ngày thứ Năm cùng tuần trả chênh nhau khoảng 76.000 đồng mỗi lượng theo giá bình quân, dù con số tổng kết tuần chỉ ghi "giảm 1,24%".
Tuần này chúng tôi đo khoảng cách giữa hai cách nhìn đó: giá đi bao xa trong tuần (quãng đường) và dừng lại ở đâu (điểm đến). Trên 16 tuần có đủ dữ liệu từ tháng Sáu, có một điểm đáng chú ý: từ cuối tháng Tám, giá trong nước chỉ đi khoảng một nửa quãng đường của giá thế giới, trong khi hồi tháng Sáu và tháng Bảy hai bên đi gần bằng nhau. Đây là góc nhìn dữ liệu trung lập, không phải khuyến nghị mua bán.
| Ngày | Phú Quý | Ancarat | DOJI |
|---|---|---|---|
| T2 5/10 | 2.232.000 | 2.185.000 | 2.264.000 |
| T3 6/10 | 2.218.000 | 2.186.000 | 2.279.000 |
| T4 7/10 | 2.171.000 | 2.143.000 | 2.222.000 |
| T5 8/10 | 2.127.000 | 2.133.000 | 2.194.000 |
| T6 9/10 | 2.165.000 | 2.173.000 | 2.246.000 |
Giá bán mỗi lượng bạc 999, chốt cuối ngày. Nguồn: dữ liệu SoSánhBạc.
| Ngày | Bình quân ba hãng | Thế giới | Premium |
|---|---|---|---|
| T2 5/10 | +0,21% | +1,09% | 15,49% |
| T3 6/10 | +0,03% | -0,73% | 16,38% |
| T4 7/10 | -2,20% | -1,94% | 16,07% |
| T5 8/10 | -1,25% | -2,21% | 17,20% |
| T6 9/10 | +2,01% | +2,36% | 16,80% |
Hai cột giữa là mức thay đổi so với phiên trước. "Thế giới" là giá bạc thế giới quy ra tiền Việt, neo theo phiên giao dịch Việt Nam. Premium là mức giá bán bình quân ba hãng cao hơn giá thế giới quy đổi. Nguồn: dữ liệu SoSánhBạc.
Hai phiên giữa tuần gánh gần hết cú giảm. Phiên thứ Tư, giá trong nước còn giảm mạnh hơn thế giới một chút (2,20% so với 1,94%). Phiên thứ Năm trở lại kiểu quen thuộc: thế giới giảm 2,21%, trong nước chỉ giảm 1,25%, và premium lên 17,20%, mức cao thứ hai từ sau ngày 19/08, chỉ sau mốc 17,40% ngày 29/09. Phiên thứ Sáu, hai bên tăng gần bằng nhau.
Tỷ lệ vàng/bạc đi từ 67,83 ngày thứ Hai lên 69,58 ngày thứ Năm, cao nhất kể từ 03/08, rồi lùi về 68,96 ngày thứ Sáu. Bạc yếu hơn vàng trong phần lớn tuần. Sáng nay 12/10, bạc thế giới quanh 61,19 USD/ounce, tỷ lệ vàng/bạc khoảng 68,8 và premium khoảng 15,4%.
Cách đo rất đơn giản. Lấy giá chốt thứ Sáu tuần trước làm mốc, rồi đi qua năm phiên từ thứ Hai đến thứ Sáu:
Cả hai được ghi bằng điểm % theo thang logarit, giống bài tuần trước, để các phiên cộng lại khớp nhau. Với biến động vài phần trăm, con số này gần như trùng phần trăm thông thường.
Áp vào tuần 41: giá thế giới quy đổi đi quãng đường 8,35 điểm để về điểm đến -1,51. Giá bình quân trong nước đi 5,72 điểm để về -1,25. Nói cách khác, giá trong nước đi khoảng 69% quãng đường của thế giới, và cả hai đều dùng chưa tới một phần tư quãng đường để thực sự dịch chuyển. Phần còn lại là đi rồi quay lại.
Mức chênh giữa giá chốt cao nhất và thấp nhất trong năm phiên, gọi là biên độ trong tuần, là 3,55% với giá bình quân trong nước. Tính theo tiền, khoảng cách giữa phiên giá cao nhất và thấp nhất trong tuần ở từng hãng là từ 53.000 đến 105.000 đồng mỗi lượng.
Một tuần chưa nói lên nhiều. Biểu đồ dưới đây đặt tỷ lệ quãng đường (trong nước chia cho thế giới) của tất cả các tuần có đủ dữ liệu cạnh nhau.
Hai nhóm tách nhau khá rõ. Trong tám tuần tháng Sáu và tháng Bảy, sáu tuần có tỷ lệ trên 0,8, hai tuần còn vượt 1, nghĩa là giá trong nước chạy theo gần như từng nhịp của thế giới. Trong tám tuần gần nhất, tỷ lệ chỉ nằm trong khoảng 0,42 đến 0,70.
| Chỉ số | Tuần 24 đến 31 | Tuần 34 đến 41 |
|---|---|---|
| Quãng đường thế giới | 12,21 | 9,35 |
| Quãng đường trong nước | 11,17 | 5,03 |
| Tỷ lệ, ba hãng | 0,91 | 0,54 |
| Tỷ lệ, Phú Quý và Ancarat | 0,91 | 0,57 |
| Biên độ trong tuần, trong nước | 7,07% | 2,76% |
| Premium chốt thứ Sáu | 22,57% | 12,80% |
Mỗi giai đoạn gồm 8 tuần. Quãng đường là bình quân mỗi tuần, tính bằng điểm % trên thang logarit. Tỷ lệ là tổng quãng đường trong nước chia cho tổng quãng đường thế giới của cả giai đoạn. Biên độ trong tuần là mức chênh giữa giá chốt cao nhất và thấp nhất trong năm phiên, bình quân các tuần. Premium là bình quân các phiên thứ Sáu. Nguồn: dữ liệu SoSánhBạc.
Một phần của sự thay đổi đến từ thế giới: từ cuối tháng Tám, giá bạc thế giới quy đổi cũng đi quãng đường ngắn hơn, 9,35 điểm mỗi tuần so với 12,21. Nhưng quãng đường trong nước co mạnh hơn nhiều, từ 11,17 xuống 5,03. Kết quả là biên độ trong tuần của giá bán trong nước giảm từ khoảng 7% xuống chưa tới 3%.
Tính riêng cho Phú Quý và Ancarat, tỷ lệ gần như y hệt (0,91 và 0,57), nên hiện tượng không phụ thuộc vào cách lấy bình quân hay vào dữ liệu của một hãng.
Vì sao lại như vậy thì dữ liệu chưa trả lời được. Bài tuần 39 đo được rằng khi thế giới đổi 1%, giá trong nước đổi trung bình khoảng 0,67% ngay trong ngày; phần còn lại do premium hấp thụ. Bảng trên cho thấy cơ chế hấp thụ đó mạnh lên rõ rệt từ cuối tháng Tám, cùng giai đoạn premium bình quân xuống từ vùng 22% về vùng 13%. Hai hiện tượng xảy ra cùng lúc, nhưng chúng tôi chưa có cách kiểm chứng cái nào dẫn tới cái nào, hay cả hai cùng do một nguyên nhân khác.
Khi thấy giá đi rồi quay lại nhiều như tuần 41, dễ nảy ra ý nghĩ rằng giá bạc có "nếp" quay đầu: giảm mạnh thì sắp hồi. Chúng tôi kiểm tra ý đó bằng hai phép thử.
Phép thử đầu tiên: so với xáo trộn ngẫu nhiên. Gọi tỷ số giữa điểm đến (bỏ dấu) và quãng đường là độ thẳng của tuần: bằng 1 nếu giá đi một mạch, gần 0 nếu đi rồi quay về chỗ cũ. Bình quân 16 tuần, độ thẳng là 0,487 với giá trong nước và 0,495 với thế giới. Sau đó chúng tôi lấy toàn bộ các mức thay đổi theo phiên trong 16 tuần, xáo trộn ngẫu nhiên thành những tuần năm phiên giả lập, lặp 20.000 lần. Nếu giá thật sự có nếp quay đầu, độ thẳng thật phải thấp hơn hẳn độ thẳng của những tuần xáo trộn.
Kết quả không như vậy. Độ thẳng bình quân của các lần xáo trộn là 0,494 với trong nước và 0,469 với thế giới; 90% số lần rơi vào khoảng 0,37 đến 0,61 với trong nước, 0,35 đến 0,59 với thế giới. Số thật nằm gọn giữa các khoảng đó: mức zíc zắc đã thấy cũng chỉ bằng mức mà một chuỗi biến động ngẫu nhiên tạo ra.
Phép thử thứ hai: nhìn thẳng vào phiên sau một phiên giảm mạnh. Trong 91 phiên có dữ liệu từ 02/06 đến 09/10, có 27 phiên giá bình quân trong nước giảm hơn 1%. Phiên ngay sau đó tăng 15 lần, không tăng 12 lần, gần với tung đồng xu. Tương quan giữa mức thay đổi của hai phiên liền nhau là 0,15 với giá trong nước và 0,04 với thế giới, đều chưa đủ lớn để phân biệt với ngẫu nhiên trên chừng ấy dữ liệu.
Cả hai phép thử cho cùng một câu trả lời: trong dữ liệu của chúng tôi, không có nếp quay đầu nào đủ rõ để dựa vào. Một tuần đi rồi quay lại như tuần 41 là chuyện thường của một thị trường biến động.
Không điều nào dưới đây là lời khuyên mua bán hay chọn thời điểm. Chúng giúp bạn đọc đúng các con số.
Con số tổng kết tuần là điểm đến, không phải giá bạn trả. Tuần 41 ghi giảm 1,24%, nhưng giá bình quân ngày thứ Ba là 2.227.667 đồng và ngày thứ Năm là 2.151.333 đồng. Khi tính lãi lỗ của mình, hãy dùng đúng ngày và đúng giá của giao dịch, rồi so với giá mua vào hiện tại của hãng bạn sẽ bán lại. Máy tính lãi/lỗ của trang tính theo cách này.
Biên độ trong tuần thường nhỏ hơn chi phí mua bán. Bình quân ba hãng trong toàn bộ kho dữ liệu, giá bán cao hơn giá mua vào khoảng 3,29%. Từ cuối tháng Tám, biên độ trong tuần của giá bình quân chỉ còn khoảng 2,76%, và 5 trong 8 tuần có biên độ dưới 3,2%. Chúng tôi thử một phép tính "nhìn lại quá khứ": trong mỗi tuần, ở mỗi hãng, giả sử ai đó biết trước toàn bộ giá và chọn được cặp phiên mua rồi bán lại cho hãng có lợi nhất trong cùng tuần. Trong 40 cặp tuần và hãng, chỉ 11 cặp cho kết quả dương. Ở tuần 41, cả ba hãng đều cho kết quả âm, từ -1,17% đến -1,50%. Đây không phải lời khuyên nên giữ lâu hay ngắn; nó chỉ cho thấy trong khung vài ngày, chi phí mua bán thường lớn hơn biến động giá. Bạn có thể xem chi phí từng hãng ở bảng so sánh giá mua bán và tính cụ thể bằng công cụ chi phí trọn vòng.
Giá trong nước êm hơn thế giới, nhưng phần chênh không biến mất. Khi giá trong nước chỉ đi khoảng một nửa quãng đường của thế giới, phần còn lại dồn vào premium. Như bài tuần 40 đã tách, thay đổi của premium giữa ngày mua và ngày bán là một phần thật trong lãi lỗ của bạn. Theo dõi nó ở lịch sử chênh lệch và premium.
Đừng đọc một tuần zíc zắc thành tín hiệu. Theo dữ liệu từ tháng Sáu, một phiên giảm mạnh không nói gì đáng tin về phiên kế tiếp.
Premium vẫn chưa co lại. Bài trước đặt câu hỏi premium vùng 16 đến 17% sẽ co hay đi ngang. Tuần 41, premium chốt ngày nằm trong khoảng 15,49% đến 17,20%, gần như trùng khoảng 15,90% đến 17,40% của tuần 40. Đã hai tuần premium đứng ở vùng này. Sáng nay chỉ báo khoảng 15,4%, nhưng đó là số giữa phiên, chưa so được với giá chốt.
Chênh lệch mua bán của DOJI đã vượt 4%. Ngày 08/10, biên của hãng lên 4,03%, lần đầu trên 4% kể từ 17/09 (4,37%), rồi lùi về 3,93% ngày thứ Sáu và giữ quanh mức đó đến sáng nay. Bình quân tuần 41, biên của DOJI là 3,94%; Phú Quý và Ancarat đều 3,10%.
Bạc vẫn yếu hơn vàng. Tỷ lệ vàng/bạc lên 69,58 ngày 08/10, cao nhất kể từ 03/08 (69,74), sau đó lùi về 68,96 ngày thứ Sáu. Sáng nay khoảng 68,8, không khác nhiều so với 67,8 sáng thứ Hai tuần trước.
Giá thế giới. Từ khoảng 61,3 USD sáng 05/10 như ghi ở bài trước, bạc ở quanh 61,19 USD sáng nay, gần như đứng yên sau một tuần đi lên đi xuống.
Giá ba hãng lấy từ bảng niêm yết chính thức của từng thương hiệu, thu thập tự động nhiều lần mỗi ngày; mỗi ngày dùng bản ghi cuối cùng. Giá thế giới quy ra tiền Việt theo tỷ giá cùng thời điểm và được neo theo phiên giao dịch Việt Nam: mỗi ngày lấy mức tham chiếu cuối cùng trước giờ đóng phiên trong nước. Vì vậy "thế giới" trong bài đo thay đổi giữa hai phiên Việt Nam, không phải 24 giờ theo giờ New York.
Một tuần chỉ được tính khi có đủ sáu mốc giá chốt (thứ Sáu tuần trước và năm phiên trong tuần) cho cả ba hãng lẫn giá thế giới. Tuần 23, 32 và 33 thiếu mốc nên bị loại. Thay đổi cuối tuần, kể cả việc một số hãng chỉnh giá vào thứ Bảy, được gộp vào phiên thứ Hai. Tuần 36 có ngày nghỉ lễ 2/9 nhưng vẫn đủ mốc nên được giữ.
Trong phép tính "nhìn lại quá khứ", DOJI chỉ được tính từ tuần 34, vì trước giữa tháng Tám nguồn dữ liệu DOJI của chúng tôi là một trang niêm yết khác, nay đã ngừng hoạt động. Phú Quý và Ancarat được tính đủ 16 tuần. Giá mua vào suy ra từ giá bán và chênh lệch mua bán đã lưu của cùng bản ghi.
Những gì phép đo không nói: mỗi giai đoạn chỉ có 8 tuần, nên khác biệt giữa hai giai đoạn là quan sát cần thêm thời gian để kiểm chứng, chưa phải quy luật. Phép xáo trộn giả định các phiên có thể hoán đổi cho nhau, bỏ qua việc thị trường có những giai đoạn biến động mạnh nhẹ khác nhau. Giá chốt ngày cũng không ghi lại biến động trong phiên, nên quãng đường thật trong ngày còn dài hơn con số ở đây. Và như mọi phép đo dựa trên quá khứ, nó mô tả những gì đã xảy ra, không hứa hẹn tương lai.
Đây là những điểm để quan sát, không phải dự đoán hay tín hiệu mua bán:
Tuần 41 cho thấy một con số tổng kết có thể che đi bao nhiêu chuyển động: giá thế giới đi 8,35 điểm để dừng cách điểm xuất phát 1,51 điểm. Kiểu đi rồi quay lại đó là bình thường và không mang nếp nào để dựa vào. Điều thay đổi thật nằm ở chỗ khác: từ cuối tháng Tám, giá trong nước chỉ đi theo khoảng một nửa quãng đường của thế giới.
Bạn có thể tự đối chiếu số liệu ở lịch sử chênh lệch và premium, công cụ chênh giá nội địa và trang tỷ lệ vàng/bạc. Công thức tính được công khai ở trang phương pháp luận. Đây là thông tin tham khảo khách quan, không phải lời khuyên đầu tư; mọi quyết định mua bán là của riêng bạn.